Tịnh pháp giới chân ngôn là gì

VẤN: Mỗi lần tụng tởm, nhỏ phần đa buộc phải gọi được không ít câu thần chú vào ghê nhật tụng hằng ngày. Một số chụ bé biết cơ mà không hề ít câu kinh crúc con thiếu hiểu biết chân thành và ý nghĩa là gì. Nghi thức tụng niệm này là do ai biên soạn ra với tất cả yêu cầu vì chưng Đức Phật thuyết giảng tốt không? Nếu tụng ghê quên gọi hoặc không phát âm các câu crúc mở màn trước khi vào bài xích khiếp có được không? đa phần câu crúc điều này và nhỏ nghe nói câu chú như thế nào cũng đều có công năng rất nhiều vậy câu crúc nào là giỏi nhất? Con nghe nói nếu như không tụng phát âm những câu ghê chụ thì những pháp giới xung quanh ko tkhô giòn tịnh, không có sự gia trì của long thần hộ pháp hay là có khả năng sẽ bị hồ hết bậc vào rất hình ko ủng hộ, khuấy rối, vấn đề đó là gồm đúng không? Con xin cảm ơn Sư không ít.

Bạn đang xem: Tịnh pháp giới chân ngôn là gì

ĐÁP:

I . Kính Nhựt Tụng, là tởm tụng hằng ngày được nhiều soạn giả, dịch giá, nghiên cứu gửi vào, gom thành bản kinh Nhựt Tụng, Nghi thức tụng niệm. Kinh Nhựt Tụng còn hiểu là Kinh Tam Bảo, bởi vì Ngài Quán Nguyệt, Ngài Bất Động pháp sư, Ngài Cưu Ma La Thập, biên sọan. Về sau có các bản kinh Nhi thời Nhựt khóa, Tam thời Nhựt khóa, Từ thời Nhựt khóa tức là bộ khiếp toàn cục nhiều bản ghê cực hiếm của nhiều môn phái, nlỗi các bài chú, phần đầu nghi thức:

- Các bài chú ở phần nghi thức đâu tiên, thuộc Mật tông, Chơn ngôn thần chú, Mật tông khai tổ là Đại sư Thiện Vô Úy (637-735) và Kyên Cang Trí (670-741), Ngài Bất Không pháp sư (702-774) truyền bá và thành lập Crộng Ngôn tông tại China vào thế kỷ thứ VIII, vào thời nhà Đường, Đường Túc Tông quy y và các Vua nhà Đường rất tôn quý.

- Thời công sức sáng thần chú Thủ Lăng Nghiêm, thời công huân chiều Di Đà, Hồng danh bửu sám bởi Ngài Quán Nguyệt biên sọan, HT Thích Khánh Anh biên dịch

- Mông Sơn thí thực thuộc Mật Tông vị Bất Động Pháp sư, người ở núi Mông dựa vào bản kinh Du Già Diệm Khẩu biên soạn, Tuệ Tân pháp sư, cẩn thuật, đệ tử Pháp Ấn chỉnh lý, Cao Hùng Văn uống Thù Giảng Đường, HT Thích Huyền Tôn dịch ra Việt ngữ phát hành giữ truyền. Mông Sơn thí thực bắt đầu từ thời nhà Đường, tại Việt Nam Vua Quang Trung lập đàn vào năm 1789, Vua Gia Long lập đàn tế cô hồn vào năm 1802. Bản khiếp được đăng vào Vnạp năng lượng đàn bảo giám năm 1927, Nam phong tap chí số 178, Tạp chí Văn uống học số 2 năm 1977

- Kinch A Di Đà bởi vì Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch, Hồng danh bửu sám, vị Bất Động pháp sư biên sọan thuộc Tịnh độ Mật tịnh

- Phẩm Phổ Môn, thuộc Pháp Hoa tông,

- Kinc Kyên ổn Cang Bát nhã thuộc Thiền tông, các tởm chú đều vì Phật thuyết được clỗi vị Tổ sư Thiền, Tịnh, Mật biên sọan giúp mang lại hành giả có cơ duyên gần gũi ngôi Tam Bảo, gớm Tam Bảo xuất xứ từ trên đây.

- Kinch Vu Lan do Ngài Trúc Pháp Hộ, người nước Nam Thiên Trúc dịch thuật, được các soạn giả chuyển vào Kinh Tam Bảo dành đến Phật tử trì tụng báo hiếu vào ngày rằm tháng bảy âm lịch hằng năm.

Các phẩm ghê trên gộp lại thành kinh Nhựt Tụng, Kinc Tam Bảo, giỏi Nghi thức tụng niệm do các bậc tiên đức đại lão Hòa Thượng Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Tăng Già Nam Việt, Tổng Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, Phật giáo Tịnh độ tông Việt Nam, Thiền tông, Mật tông, nlỗi HT Thích Khánh Anh, HT Thích Trí Tịnh, HT Thích Huệ Đăng, HT Thích Thiền Tâm, HT Thích Thiện Huê, HT Thích Tuệ Hải, Cụ Đoàn Trung Còn; mặt Nam tông Phật giáo có Kinh Nhựt Hành bởi vì Ngài Hộ Tông biên sọan, mặt Khất sĩ bởi Pháp sư Thích Giác Nhiên biên soạn, Tịnh Độ Non Bồng do HT Thích Giác Quang biên soạn dành mang lại môn phong tụng niệm.

II . Lực dụng crộng ngôn thần chú

Chú lực, crộng ngôn thần chú xưa ni ít có các bậc đại sư dịch ra tiếng Việt, vì các lý vị sau đây:

1/. Vì trung tâm niệm bí mật buộc phải ko phiên dịch

2/. Vì ý nghĩa kín nên không phiên dịch

3/. Vì danh từ bỏ bí mật đề xuất không phiên dịch

4/. Vì âm thanh hao kín cần không phiên dịch

5/. Vì thiện tại sinc kín đáo cần không phiên dịch.

Theo Ngài Trần Huyền Trang, dịch giả đời nhà Đường, sở dĩ các chú lực ko phiên dịch là vì:

- Tôn trọng sự nghiêm túc đề nghị không thông dịch

- Do một chữ có rất nhiều nghĩa yêu cầu ko phiên dịch

- Do sự kín đáo cần ko thông ngôn

- Do thuận theo người xưa phải ko phiên dịch

- Do phương thơm này không có nghĩa thụ kia cần không phiên dịch

(Huyền Tkhô cứng Nguyễn Vũ Tá Thiên soạn dịch)

Các quyển kinh Tam Bảo được biên sọan ở Việt Nam, phần mở đầu nghi thức tụng niệm có các câu thần chú, nhỏng

Chú rửa tay, chú rửa mặt, chú súc miệng, chú Phổ lễ Tam Bảo, Bài nguyện chuông, Nguyện hương

Tịnh pháp giới crộng ngôn: - Án Lam. Cầu đến pháp giới bao phủ tkhô giòn tịnh, ko bị ô nhiễm

Tịnh Khẩu nghiệp Chơn ngôn, Tu rị, tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị ta bà ha. Khẩu nghiệp tkhô cứng tịnh

Tịnh Thân nghiệp Chơn ngôn Tu nhiều rị, tu nhiều rị, tu ma rị, ta bà ha. Thân nghiệp tkhô hanh tịnh

Tịnh tam nghiệp crộng ngôn - Án ta phạ, bà phạ, thuật đà, ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ thuật độ hám. Pháp giới không ô nhiệm, thân khẩu ý thanh tịnh, chỉ tụng gớm, không làm việc khác

Án Thổ địa crộng ngôn: Nam tế bào Tam mãn đa, một đà nẫm, án, độ rô, độ rô địa vĩ ta bà ha. Cầu mang lại cuộc đất khu vực người tụng gớm ổn định

Phổ lễ crộng ngôn Án phạ phiệt nhựt ra hộc. Gieo năm vóc cúng dường Phật Pháp Tăng. Khi hiểu crúc nầy, tưởng thân bản thân nghỉ ngơi mọi những cõi nước mười phương đương đhình họa lễ Clỗi Phật, Bồ tát v.v…

Chơn ngôn phổ bái dường Án nga nga nẳng, tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng. Nguyện đem thân trọng tâm thanh hao tịnh bái dường Phật. Khi đọc crúc nầy, tưởng hương thơm hoa, trang bị ẩm thực dâng cúng đổi mới ra rất nhiều cúng nhường toàn bộ clỗi Phật, Hiền Thánh và lục đạo vào mười phương thơm.

Theo Từ điển Phật học của Cụ Đoàn Trung Còn xuất bản năm 1968, thì các câu chú bên trên là của Phật, Phật ngôn, từ miệng Phật nói ra buộc phải phát âm là crộng ngôn. Chơn ngôn còn nữa ngôn ngữ khác là Đà la ni, dịch là tổng trì, cũng gọi thần chú, chú lực, lực dụng của ba đời clỗi Phật, tạng pháp của bố đời clỗi Phật, ngữ pháp khởi đầu từ thân, miệng, ý tuy “cha là một”, lời chơn thật của các Pháp sư hiệp nhất của thể tướng dụng, trung ương tâm khế hiệp. Những câu linh diệu huyền vi mà nhà đạo phát âm ra, vừa gọi vừa kiết thủ ấn. Những nhà sư có crộng truyền, trong những lúc đọc crộng ngôn và kiết pháp ấn thì nhập chình họa giới Phật, làm một với Phật.

Crộng ngôn thần chú ít được mọi người biết đến, là vì các Pháp sư tu chứng, khi truyền đạo bằng mật ngữ, khẩu khuyết crộng truyền, truyền bằng ý tứ phải phát âm là “Mật”, vì đó ít ai chú ý!

Vì mật ý thuộc về chơn ngôn, pháp tâm ấn trung tâm, đề nghị từ hồi thế kỷ thứ VIII dương lịch có Ngài Kyên Cang Trí sáng lập chơn ngôn tông và truyền mãi tới bây giờ vẫn ít người biết đến là vậy! Về sự hoằng truyền crộng ngôn thì có chơn ngôn của clỗi Phật quá khứ, clỗi Phật hiện tại, chư đại Bồ tát và cũng có chơn ngôn của chư Thiên, chư Quỷ Thần khi tu đắc đạo phát trung tâm hộ trì Phật Pháp, bắt buộc được Phật công nhận để hộ trợ cho các nhà tu hành.

Về công dụng của chơn ngôn, thì người ta đọc để mà: trừ bệnh, trừ tà, ẩn hình, hàng phục thú dữ, người ác, dùng phép tắc thần thông độ đời, được sức hộ trì của clỗi Phật của chỏng Bồ tát của các bộ quỷ thần. Những câu chơn ngôn, khi khởi thì có chữ Án và Khi dứt thì có chữ Ta bà ha, nhì tiếng ấy đều có lực vô hình, hộ niệm người tu trì.

Chơn ngôn thuộc mật ngữ, là khẩu khuyết chơn truyền, truyền đạt ngôn ngữ giữa Thầy và Trò và chỉ có Thầy và Trò mới có sự cảm thông tiêu biểu, đọc nhau trong yên ổn lặng, Thầy muốn nói gì cho đệ tử nghe, và đệ tử nghe những gì vào ý tứ của Thầy bảo ban. Crộng ngôn gần giống pháp truyền trọng điểm ấn vai trung phong, khó ai mà đoán được Thầy nói gì cho đệ tử. Cho yêu cầu lời Phật để lại vào các sách mật, thiền, tịnh đều là “klặng ngôn ngoc ngữ”, trì tụng gớm nhựt tụng không đọc các câu crộng ngôn, bỏ qua thì rất uổng.

*

III . Không đọc chú, là tụng kinh thiếu?

khi vào nghi thức trì tụng tởm quên phát âm những câu crộng ngôn, quên cũng tức là ko thấy, rất vô lý, theo trung khu lý của người tu sĩ tụng tởm thâm niên, thường xuất xắc mang lại qua những bài kinh mà các vị mang đến là ko cần thiết. Ý tứ nầy có vẻ “lơ đãng” quá, tuy vậy luôn luôn xảy ra dành cho những vị Trụ trì “cô độc nhứt tăng nhứt tự” ko có “chúng lý” Tăng tốt Ni trợ dulặng. Phật tử thì ko được giáo hóa tu hành, học giáo lý, tụng ghê niệm Phật, chỉ có biết một việc là đi thờ chùa, bỏ tiền vào “thùng tùy hỷ”, thùng “công đức”, giỏi thùng “tam bảo”. Cúng hoàn thành lạy Phật, lạy tổ và ra về lo việc nhà, không có ai nói với ai tiếng nào tạo yêu cầu sự cảm thông giữa Tru trì và Phật tử.

Mặc khác, một số Phật tử có lòng thành tín xin Thầy chỉ dạy Phật Pháp, Thầy gợi ý tụng ghê, tuy nhiên sự chỉ dẫn chỉ đơn giản, không tuân theo nghi thức tụng niệm trong ghê Tam Bảo đã được biên sọan. Do đó, Đạo tràng Phật tử tụng đủ, tụng thiếu cũng ko biết, cũng ko biết vào chuông mõ tụng ghê không nên đúng nlỗi thế nào? Không biết tụng kinh nào mang đến đúng với trình độ phát âm biết của Phật tử, trcầu Lúc knhì khiếp có tụng các câu chơn ngôn thần chú hay là không cũng ko biết và không được giải đáp thực hành cho chuẩn xác.

Xin nói về sinch họat của một số chùa dù ở thành thị giỏi nông làng, hằng ngày một thời gớm cũng ko có. Một số chùa tụng công trạng sáng , công phu chiều, công phu tối bằng băng từ cassette, nghe thì rất “tinh tần” tuy nhiên thật ra chẳng có ai tsi dự tụng kinh! Một số chùa đến giờ công sức, Thầy Trụ trì “tròng” áo tràng vào, “tròng” tức là không mặc áo tràng, mà chỉ choàng qua vay, làm cho giỏi tay áo bay cà lơ phất phơ, áo thì bị tàng nhang làm cháy “lủng lỡ” nhiều khu vực, xung quanh năm không giặt giũ. Thầy vẫn ko chú ý gì việc đó, mà lo đốt nhang, cắm nhang lên bàn Phật, bàn Tổ.

Một số bàn cúng chỏng vị phía trcầu và sau chùa, nếu là công sức khuya và chiều thi gióng lên 3 hồi trống mang lại đem có, điểm 6 tiếng chuông cho đem lệ, làm “tín hiệu” đánh thức dùm mang đến các bà hàng xóm thức dậy dọn hàng ra chợ bán buôn, hoặc gánh hàng về, các ông đồ tể thức giấc lo mổ heo! Sau Khi dâng hương xong Thầy cởi bỏ áo tràng “trùm” lên mặt trống cần lao gần bên bàn Phật, bữa ngày sau tiếp tục “làm chuyện hằng ngày” đỡ mất công đi rước áo. Đó là ngừng việc thời công lao “sáng và chiều”. “Thời tịnh độ tối” nếu ko có ai đến tụng niệm, chùa đóng cửa ngõ ngủ sớm...!

Đối với những Phật tử tiến bộ, cũng cần mẫn tụng niệm, tuy thế chỉ quan trọng những bài ghê lớn, tụng gớm gấp rút mang lại qua những bài kinh để đem “điểm công cứ”, công đức hoặc tụng đến có tụng để hiểu là Phật tử! rất uổng công đến Phật tử quy y Tam Bảo. Có địa điểm Phật tử được giải đáp tụng ghê, nhưng lại bỏ qua phần nghi thức tụng các thần chú crộng ngôn, đến đó là của mật tông, chỉ nguyện mùi hương, kỳ nguyện, lễ Tam bảo rồi vào chuông mõ mà thôi. Lâu ngày trở thành thân quen, tụng kinh ko tụng các chơn ngôn.

Khắp khuyên ổn quý Nam Nữ Phật tử Lúc knhị khóa lễ tụng gớm tại gia, tai am riêng rẽ của mình, buộc phải thỉnh Thầy Bổn sư đến khai khóa lễ, sẽ được Thầy hướng dẫn cặn kẻ, tụng các crộng ngôn trcầu lúc nguyện mùi hương, knhị tởm. Tụng tởm Tam Bảo mà ko tụng các crộng ngôn là thiếu sót, thời ghê ít linc diệu, sự nhiệm mầu bớt bớt nơi pháp giới đạo tràng của Phật tử.

Nghi thức tụng niệm xưa ni ko gia sút các chơn ngôn, các khóa lễ chốn thiền lâm, vị chủ lễ luôn xướng lên các crộng ngôn. Trong Tịnh Độ Non Bồng từ những năm 1959 đến 1965 đến đến hôm nay, chỏng Tăng Ni đồng tụng các chơn ngôn thần chú trcầu khi khai kinh, nhất là knhị khóa lễ tụng kinh Pháp Hoa, tụng gớm Phổ Hiền, tụng gớm Lương Hoàng Sám, tụng ghê Từ bi Thủy Sám... tứ chúng đều tụng các chơn ngôn, không “nhận lớp”, ko dám mang lại đó là rườm rà, dù áp lực từng nào cũng không sút bớt chú lực.

Các crộng ngôn thần chú trong nghi thức tụng niệm còn dành mang đến các hành giả tu Tịnh độ, tu vào rạm sơn cùng cốc, hạng điện, nhập thất 100 ngày, 49 ngày, 21 ngày, tụng các ghê lớn, nlỗi ghê Đại thừa phương đẳng Hoa Nghiêm, tởm Đại Bát Niết Bàn, ghê Pháp Hoa...khi knhị khóa lễ tụng khiếp niệm Phật đều tụng các chơn ngôn thần chú, ước lực Phật gia hộ, đồng thời mới có thể hội nhập môi trường giữa chốn non xanh hùng vĩ.

Xem thêm: Gross Revenue Là Gì ? Định Nghĩa Và Giải Thích Ý Nghĩa Định Nghĩa Và Giải Thích Ý Nghĩa

Knhị khóa lễ tụng tởm, mà ko tụng các bài chú, các bài chơn ngôn, phạm vào lỗi tụng gớm “thiếu”, không đủ đạo hạnh làm gương mẫu tiêu biểu mang lại người sau. Trong những năm còn tu ở non núi, Sư có cốc riêng biệt, rất cần cù tụng kinh và nghiêm cứu khiếp sách, từ tiểu thừa thanh lịch đến đại thừa, chơn lý đại đồng của tổ sư Minh Đăng Quang, sách của Liên Hải học đường, Phật học đường Nam Việt Chùa Ấn Quang, sách của Đức Pháp Chù Khánh Anh. Đến giờ tụng ghê, không có chổ chính giữa ý sợ sệt hay nhàm chán, mà rất say đắm thích tụng gớm, tụng đúng, tụng đủ. Quý Cụ Giáo sư Thiện Thông, Giác Xuất, Nhỏng Lý rất quý mến, Tuy Sư còn là Sa di tuy vậy các vị rất mến thương, trọng thị.

IV . Hiển hay Mật cũng là giáo pháp của Phật

Ngài Trí Khải, knhì đánh Thiên Tnhị tông (538-597), có phân tách giáo pháp Đức Phật, thành năm thời, tám giáo. Tám giáo gồm: tạng giáo, thông giáo, biệt giáo, viên giáo, đốn giáo, tiệm giáo, bí mật giáo, bất định giáo (Các tông phái Đạo Phật - Đoàn Trung Còn). Trong tám giáo, giáo pháp nào cũng mầu nhiệm, mà lại vào đó có 6 pháp thuộc về “hiển giáo”, tức giáo pháp Phật phổ cập giữ thông vào đời rộng rãi rộng. Về “bất định giáo” thì hiển, mật đều được lưu thông, tức là có Khi phổ cập trong đời, nhưng mà cũng có khi ẩn mật. Chú lực crộng ngôn đứng vào hàng thứ bảy “bí mật giáo” ít được giữ thông rộng khắp. Phát sinh từ ý nầy, trong giới tu học nghiên cứu tởm Phật xưa thường có ý tôn vinc crộng ngôn thần chú (hiếm có) thành phù phép có đặc tính linc diệu. Ngày nay, Phật tử tiến bộ nghiên cứu khiếp Phật sâu rộng thì mới thấy các pháp Phật các tông phái vào đó có mật tông cũng là lời pháp sâu mầu của Đức Phật, là đức tin mầu nhiệm không hai ko sai khác.

Giáo pháp Phật được tuyên lưu lại giữa Thầy và Trò, nạm vì Thầy dạy giáo lý giải thoát trải qua ngôn ngữ của quốc gia đó làm đến số đông môn đệ, Phật tử tín đồ thấu đọc một cách thông suốt rõ ràng. Tuy nhiên ở một số quốc gia vì đời sống môi trường khắc nghiệt giá lạnh, nhiều núi non hùng vĩ, ko có đồng bằng, có lẽ khu vực trên đây phù hợp với ý tưởng “bí mật giáo”, pháp Phật được tuyên ổn lưu bằng mật ngữ, mật ý hiểu là crộng ngôn. Crộng ngôn thần chú bắt nguồn từ trung tâm lực vô hình của bậc đạo sư và môn đệ thuộc “bí mật giáo” cũng chính là giáo pháp từ miệng Phật xuất sanh

Nhìn chung giáo pháp của Đức Phật dù “hiển tốt mật” cũng được ban truyền từ miệng Phật rạm thấu đến thâm nám trọng tâm đệ tử, mang đến đến khi nào đệ tử đại ngộ...!

Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (602-675) sau thời điểm truyền y bát đến Lục Tổ Huệ Năng (638-713), tức thời đền giờ tý canh ba, nữa đêm Thầy lẳng lặng đưa Trò vượt dòng sông Cửu Giang, ẩn mình đi về phương thơm Nam.” Thầy nói: “để Ta chuyển nhỏ đi” - Trò trả lời: "không ạ, Khi con mê thì Thầy độ, Khi nhỏ ngộ rồi, bé tự độ mang con”. (năm Tân Dậu - 661). Những câu nói bất hủ của Thầy Trò là động lực vô hình làm cho niềm tin của Thầy và sự sáng tạo của Trò phát huy ánh hào quang quẻ nội tại gởi gắm vào nhau, chính đó là mật ý, là năng lượng, là thần chú chơn ngôn vào giáo pháp Đức Phật

Câu chuyện Naropa truyền đạo mang lại Milarepa trong một môi trường khắc nghiệt: Naropage authority ra lệnh hành hạ Milarepage authority đến sống lưng vai rướm máu chỉ vì xây dựng cnạp năng lượng nhà ở bằng đá chẻ cho đàn ông của Naropage authority. Tình Thầy và Trò, ko một chút cảm thông, lúc nào cũng hành hạ và hành hạ, thật rất phủ phàng mang đến người mới vào học đạo nhỏng Milarepage authority...Nhưng trong thâm tâm Đại sư Naropage authority lúc nào cũng chỉ có Milarepage authority mới là người duy nhứt đắc đạo và chỉ có Milarepage authority mới là người có đủ tài năng kế thừa sự nghiệp Phật pháp của Naropa. Trong quy trình đó,tưởng chừng nhỏng Milarepa thối chuyển, nhưng cuối cùng giữa đêm Black trừ tịch Milarepage authority được Naropa truyền trao giáo pháp, thủ ấn và quyển “Cửu âm chơn kinh”, với câu nói: "Thầy Trò ta chỉ gặp nhau bấy nhiêu thôi, con hãy ra đi truyền đạo” (Milarepage authority nhỏ người khôn xiết việt - Nguim tác Tây Tạng: Mila Khabum - Tác giả: Retầm thường - Việt dịch: Đỗ Đình Đồng)

Trong tạng Mật, chơn ngôn thần chú Chuẩn Đề Phật Mẫu có 18 tay, vào 18 tay có 18 pháp khí sắc bén, chơn ngôn nlỗi sau:

Khể thủ quy-y Tô tất đế,

Ðầu diện đhình họa lễ thất câu chi.

Ngã kim xưng tán Ðại Chuẩn Ðề,

Duy nguyện trường đoản cú bi thùy gia hộ.

Nam tế bào tát đa nđộ ẩm tam miệu tam người thương đề, Câu đưa ra nđộ ẩm, Ðát điệt tha.Án, Chiết lệ nhà lệ Chuẩn Ðề, Ta bà ha.

Dịch nghĩa

Con quy y trước bảy trăm triệu đấng tuyệt đối hoàn hảo giác ngộ clỗi Phật. Này đây: Om! Chuẩn đề! Chuẩn đề! Cầu ý muốn lời nguyện tkhô nóng tịnh này có thể là sự thật!

Dịch thơ:

Cúi đầu quy kính pháp viên thành

Đhình họa lễ đầy đủ bảy trăm ức Phật

Con nay xưng tán Đức Chuẩn Đề.

Nhờ lượng tự ai oán ủng hộ.

. Thọat tiên “thấy” hình tượng Ngài Chuẩn Đề ta có vẻ khiếp sợ trước những vũ khí sắc bén trong lòng 18 bàn tay của Ngài, tuy vậy khi nghe tới nói đến Chuẩn Đề Phât Mẫu, ta thấy xuất hiện tinc thần vô úy và kính tin. Phật tử chúng ta sẽ cảm thấy ấm lòng. Khi phát âm câu thần chú, tức là thân trọng điểm gieo năm vóc trước 700.000.000 Đức Phật. Hiểu được nghĩa của thần chú ta phát nguyện quy y và ko bao giờ rời khỏi Phật Mẫu dù chỉ trong giây phút.

Trong Kinc niệm Phật bố la mật có bài Vãng Sanh quyết định crộng ngôn

Nam mô a di đa bà dạ, đá tha dà đá dạ, đá địa dạ tha: A di rị đô bà tỳ, A di rị đá vớ đam bà tỳ, A di rị đá tì ca lan đế, A di rị đá tì ca lan đá, dà di nị, dà dà mãng cầu, chỉ đa ca lệ ta bà ha.

Nghĩa: Quy mạng A Di Đà Nlỗi Lai. Chân ngôn nói rằng: Hiện lên cam lộ, phát sinh cam lộ, can đảm cam lộ, đạt mang lại cam lộ quả cảm, rải mọi hư ko, thành công cát tường

Người siêng tụng chú này được Phật A Di Đà thường ngự trên đỉnh đầu ủng hộ, hiện tại đời an ổn, Lúc mạng chung được tùy ý vãng sanh.

Các crộng ngôn trong ghê Nhựt Tụng cũng thế dó, quý Phật tử! Cố gắng tụng niệm đến đầy đủ, tránh việc bỏ sót.

V. Trong chốn thiền môn, đối với Phật tử làm gì thì làm, nhưng đến lúc knhì khóa lễ tụng kinh, niệm Phật thì rất quan trọng. Thời khóa ban ngày, hành giả phải tắm cọ sạch sẽ, chỉnh trang áo quần, pháp phục áo tràng cài nút áo tràng chỉnh tề, xếp hàng ngũ chỉnh tề, tập trung Tổ đường bạch Tổ, chia thành phái nam phái nữ phái, đăng lâm đạo tràng, thảy thảy đều vâng theo giải đáp của Thầy Chủ lễ, duy na, duyệt chúng mỗi người tự có trách nhiệm tự đứng chấp tay theo thứ lớp tuổi tác giới pháp, tốt đối không chen lấn, nhất là ưu tiên đến các Phật tử lão niên. Đâu đó trang nghiêm chú trọng tâm tụng phát âm theo Thầy Chủ lễ khởi xướng.

Vào gớm là hiểu những crộng ngôn thần chú có in sẳn trước các phẩm kinh, vày phát âm các thần chú mà clỗi Thiên, chư Thần, chư Hộ Pháp lai hộ trì làm mang lại pháp giới chỉnh tề thanh tinh, quỷ thần thay vì làm ác, trở lại hộ trì đến người phát trung khu tụng kinh. Quý vị ko hiểu lamg giảm bớt trí nhớ đọc thần chú sẽ cảm thấy thiếu cái gì đó trong thời tởm, hoặc cảm thức nghe thấy có gí đó ko ổn vào đạo tràng chúng ta đó quý vị ạ!

Một điều mà Phật tử ko thể ko biết, chúng ta, mọi người phải tôn trọng quyển gớm, Lúc chưa tụng không nên lật gớm bày ra, vì bày khiếp ra là chỏng thiên, chỏng thần, hộ pháp, quỷ thần đếu cũng chấp tay hầu ghê, hộ tởm, hộ niệm đến người tụng khiếp, cần nếu lật kinh ra mà ko tụng thì chúng ta có lỗi với bá vạn clỗi thiên, clỗi thần, hộ pháp vẫn ngóng chờ, hầu hạ, làm mất hạnh lành, mất vẻ trang nghiêm và công đức của người tụng kinh.

Đối với các Phật tử knhị kinh tại gia cũng cố kỉnh, càng phải giữ mang đến nghiêm thì clỗi thiên, clỗi thần, hộ pháp sẽ hỗ trợ, gia đình vượt khỏi cphía duyên. Phải nhớ khi knhì khiếp, bày ghê phải tụng ghê không được chần đợi lãng lịch sự chuyện khác, bỏ lại quyển khiếp là chuyện chính. Tụng gớm kết thúc Phật tử xếp khiếp lạy dùng miếng vải vàng độ chừng 3,5 tấc x 4,5 tấc phủ lên quyển gớm, chứng tỏ người nhỏ Phật tôn quý quyển kinh Phật, Kinc Tam Bảo, tôn quý lời Phật dạy vào ghê không để mang đến môi trường ô nhiễm, bụi bậm làm nhơ bẩn kinh Phật, chỏng thiện thần sẽ thường xulặng đến hộ trì.

Phật tử cũng có thể tùy theo sọan giả biên sọan quyển Kinch mà trì tụng. Kinh có biên soạn chơn ngôn thần chú thì Phật tử tụng theo gớm có biên sọan crộng ngôn thần chú. Kinc ko có biên soạn crộng ngôn thần chú thì Phật tử tụng theo kinh không tụng crộng ngôn thần chú. Nếu có sai thì người biên sọan trách nhiệm. Ở trường hợp khác, là Phật tử tu thâm nám niên đọc biết về nghi thức tụng niệm, thì tụng theo nghi thức tụng niệm mà mình đã học, tạo mang lại pháp giới chỉnh tề, tkhô hanh tịnh, long thần hộ pháp trợ duim đến hoàn mãn khóa lễ, tạo nhiều công đức, trí huệ tăng trưởng, bồ đề trung ương vững mạnh.

Ngoài ra còn nữa các sinc họat khác nlỗi dâng hương bái ncầu, lau bàn Phật, dùng khăn uống sạch vệ sinh bụi dính cốt tượng Phật, chỉnh trang bàn Phật, những sinh họat nầy cũng là hạnh niệm Phật, niệm chú đó. Công đức tụng khiếp tạo thành lợi ích lớn cho gia đình, mang lại từng thành viên gia đình, giảm những cường độ nóng vội của trọng điểm, giảm bức xúc, sự hối thúc, sự bực dọc căng thẳng, sự hối hả, tạo nên sự an lành, rạm diệu ấm áp vào gia dình